Cây bình linh trị bệnh gì?

Cây bình linh hay còn được dân gian gọi được dan gian gọi là cây keo dậu được dùng để xổ giun sán rất hiệu quả. Cây bình linh là chiếc cây mọc rất nhiều ở miền Nam, chúng sở hữu tác dụng kềm chế sự vững mạnh của tế bào ung thư gan và ung thư phổi. Tuy nhiên, sử dụng cây bình linh bắt buộc lưu ý vì cây bình linh với độc. Vậy cây bình linh trị bệnh gì? Cây bình linh mang ăn được không? Cây keo dậu với tác dụng gì? Để hiểu rõ hơn về công dụng của cây bình linh, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu khía cạnh hơn qua bài viết dưới đây.

Cây bình linh là cây gì?

Cây bình linh thuộc họ hổ thẹn Mimosaceae và có tên kỹ thuật là Leucaena leucocephala. Ngoài ra, cây bình linh còn được gọi có nhiều tên gọi khác như cây keo giậu, keo dậu, keo giun, người thương kết đại, táo nhơn, bò chét,…

Cây keo dậu là mẫu cây thân gỗ nhỏ ko mang gai, mảnh mang chiều cao từ 2m – 5m, vỏ thường mang màu xanh lục, màu xám hoặc màu nâu đỏ.

Tán lá hẹp thuộc dạng lá kép lông chim 2 lần, mỗi lá gồm 11-18 đôi lá chét, hình liềm, ko cuống. Cuống lá chung thường dài từ 12 – 20 cm, phía dưới và mang một hạch ở dưới đuôi cuống phụ đầu tiên chậu phình lên, cuống lá với lông ngắn mọc nằm rạp xuống ở phía trên.

Hoa bình linh mọc vô cùng nhiều, màu trắng, mọc thành cụm ở nách lá, cụm hoa hình cầu, sở hữu cuống giống như hoa trinh nữ.

Quả dẹt, dài, mọc thành chùm, mỗi quả dài khoảng 13-15 cm, rộng khoảng 15 mm. Đầu quả nhọn và cứng, mỗi quả với 15-20 hạt hình bầu dục, dẹt, khá phồng và phẳng nhẵn, dài khoảng 7 mm, rộng khoảng 4 mm, gần nghiêng trong quả. Lúc đầu hạt với màu xanh lục hoặc màu nâu nhạt lúc xanh và sẽ chuyển sang màu nâu đen khi già. Hạt keo dậu lúc xanh với thể ăn được, những khi hạt chín thường được sử dụng làm cho thuốc xổ giun, bột dinh dưỡng cho người và cả gia súc. Cây thường ra hoa vào tháng 4 – 6 và mùa quả vào tháng 7 – 9 hàng năm.

Khu vực phân bố

Cây bình linh sở hữu khởi thủy ở các vùng thuộc khu vực Trung Mỹ và Nam Mỹ, sau đấy được thuần hóa và được trồng ở đa dạng nước Đông Nam Á, trong ấy với Việt Nam.

Ở nước ta, cây bình linh được trồng ở khắp nơi, thường được trồng khiến cho hàng rào và khiến cho phân xanh bóng mát. Cây có khả năng sinh trưởng và tăng trưởng tốt trên đất thoát nước, ít chua, có thể thích ứng sở hữu đất ven biển, đất mặn vừa, cây mọc ở phía Bắc mang hiện tượng rụng lá vào mùa đông. Cây bình linh có thể chịu khô hạn vô cùng tốt, nhưng khả năng chịu lạnh, sương muối, chỗ đất ngập úng, đặc trưng là cây còn non. Vì vậy, cây keo dậu phát triển rẻ ở các khu vực mang khí hậu nhiệt đới và mưa nhiều. Cây bình linh ra rộng rãi hoa, mang khả năng tái sinh ngẫu nhiên từ hạt và cây chồi sau lúc bị chặt.

Cây bình linh thường mọc hoang ở một số tỉnh giấc vùng duyên hải miền Trung như Phú Yên, Bình Định, Bình Thuận, Khách Hòa,…

Thu hái – Cây bình linh trị bệnh gì?

Người ta thường tiêu dùng phần phần hạt của cây keo dậu để khiến cho thuốc chữa bệnh.

Cây bình linh mang ăn được không? Quả bình linh sau khi chín được thu hái về bóc lấy hạt, đem phơi hoặc sấy khô và bảo quản dùng dần. Ngoài ra, lá và đọt non của cây keo giậu còn được người dân hái về để nấu canh, luộc hoặc ăn sống như các chiếc rau thông thường.

Thành phần hóa học

Từ nhiều năm nay, cây keo dậu đã được nghiên cứu và đã tậu thấy một số thành phần hóa học như sau:

Trong hạt ko chứa tinh bột, cất đường 21% protein, 12-14% chất nhầy, leuxenola, dầu béo, trong ấy sở hữu các axxit béo (stearic, oleic, linoleic, behenic, palmitic, lignoceric).

Trong lá với cất nhiều protein, tanin, carotene, quercetin, ..

Ngoài ra, trong lá và hạt bình linh còn mang đựng khoảng 3% leucenin – Đây là một cái alkaloid độc hao hao như mimosin. Chất này tan được trong cồn, etylic, metylic , nước và hầu như không tan được trong các dung môi hữu cơ khác.

Trong lá non và chồi non chứa 1 lượng nhỏ độc tố minoline, do vậy trường hợp dùng thảo dược này để làm thực phẩm phải nên ủ chua, ngâm nước qua đêm hoặc xử lý ở nhiệt độ trên 70 độ C để giảm độc tố. Mức độ độc tố dưới 5% được coi là an toàn và mang thể dùng được cho con người.

Tác dụng dược lý – Cây bình linh trị bệnh gì?

Trong đông y cây bình linh trị bệnh gì?

Theo đông y, vị thuốc bình linh để sống thì mát, tính bình, còn hạt sao vàng thì với vị khá đắng nhạt, mùi thơm bùi.

Trong dân gian, hạt thường được dùng để tẩy giun ở trẻ em. Đồng thời các báo cáo kỹ thuật trước đây cũng đã ghi nhận về việc điều trị bệnh giun đũa hiệu quả từ hạt bình linh sở hữu liều lượng 50g/ngày mà không hề với độc tính.

Ở Ấn Độ, người dân nơi đây dùng cây bình linh để điều trị những chứng bệnh về đường tiêu hóa.

Ngoài ra, do với nhiều protein trong lá phải keo giậu còn được tiêu dùng làm cho thức ăn cho gia súc, nhất là những loài động vật nhai lại. Vì nó chế tạo một nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hóa và giúp nâng cao tiết sữa. Tuy nhiên, buộc phải lưu ý rằng leucenin trong lá và hạt, mang thể gây giảm cân và gây độc cho những động vật ăn cỏ khác như gà, lợn, thỏ ngựa nếu cho ăn vượt quá 7,5% trọng lượng khô của khẩu phần ăn.

Đối sở hữu gà con, thỏ với thể gây chết

Có thể gây vô sinh ở lợn trong 1 thời gian.

Đối sở hữu động vật ăn cỏ không nhai lại như lừa, ngựa sẽ bị rụng lông và bờm.

Trong y học tiên tiến cây bình linh trị bệnh gì?

Trong thời Pháp thuộc, trẻ em được điều trị giun đũa bằng hạt keo mỗi ngày 50 gam, ko thấy hiện tượng ngộ độc.

Vào năm 1961, bệnh viện Ninh Giang đã tiêu dùng hạt keo đậu rang cho nở, sau ấy nghiền thành bột để điều trị giun, mỗi ngày cho trẻ 3-15 tuổi dùng 5g, sử dụng liên tiếp trong 3 ngày sẽ thấy cải thiện rõ rệt.

Khi điều trị giun bằng hạt bình linh nhận thấy với giun đi ra nhưng lúc thực nghiệm cho giun vào nước nhan sắc của hạt keo dậu thì ko thấy tác dụng.

Chất độc mimosine trong dược chất có khả năng ức chế sản sinh tế bào ung nhọt gan, ung thư phổi và đồng thời làm nâng cao độ mẫn cảm của tế bào ác tính đối có việc điều trị ung thư.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng chiết xuất từ cây keo dậu có khả năng ức chế ung độc niêm mạc miệng và ức chế hiện tượng di căn của tế bào ác tính.

Chiết xuất từ ​​hạt bình linh có thể khiến giảm hoạt động của cơ, ức chế hoạt động của hệ tâm thần trung ương, làm chậm nhịp thở.