Các phương pháp xác định mật độ xương

Hiện nay, việc phát hiện người loãng xương hoặc nguy cơ loãng xương đang được thực hành đa dạng nhờ những máy móc thăm dó khối lượng xương.

Từ năm 2002, những hội nghị quốc tế về loãng xương đã hợp nhất ý kiến về giá trị của những loại máy đo mật độ xương: máy đo mật độ xương dùng vô cùng âm chỉ với giá trị sàng lọc, chỉ có máy dùng tia X năng lượng kép, được gọi là DEXA (Dual – Energy X – ray Absorptionmetry) mới chẩn đoán.

Chẩn đoán bằng phương pháp đo mật độ xương – BMD

Sử dụng tiêu chuẩn của WHO dựa vào mật độ xương (BMD – Bonne Mineral Density) tính theo T – score để chẩn đoán loãng xương. T – score cuả một cá thể đó so với BMD của nhóm người trẻ tuổi làm cho chuẩn.

+ Loãng xương: T – socre dưới -2,5 (BMD dưới ngưỡng một mực là -2,5 độ lệch chuẩn so với giá trị làng nhàng của người trưởng thành trẻ tuổi, tại bất kì vị trí nào của xương).

+ Loãng xương nặng: T – score dưới -2,5 và sở hữu một hoặc rộng rãi gãy xương.

Thiểu xương (osteopenia): T – score trong khoảng từ -1 đến -2,5.

Mối ảnh hưởng giữa mật độ xương có loãng xương và nguy cơ gãy xương

Như 1 quy tắc, nguy cơ gãy xương cuả bệnh nhân tăng lên gấp đôi với mỗi 1 độ lệch chuẩn dưới ngưỡng tham khảo của người trưởng thành khỏe mạnh.

Ví dụ: ví như bệnh nhân với chỉ số T –score là -2 SD, sở hữu tức là người này mang nguy cơ gãy xương cao gấp 4 lần so sở hữu nữ giới trẻ sở hữu mật độ xương đỉnh.

Trên các đối tượng có mật độ xương thấp, nguy cơ gãy xương đốt sống nâng cao lên gấp 2 -3 lần. Tỉ lệ này nâng cao lên đến 5 lần trên những đối tượng bị loãng xương.

Vấn đề đo lặp lại để theo dõi điều trị

Vấn đề theo dõi mật độ xương còn nhiều tranh cãi. Một số bác bỏ sĩ khuyên nên đo lại mật độ xương sau một -2 năm. Nhìn chung tần số của đo mật độ xương là một lần trong 2 năm. Hội Y khoa Mĩ cho rằng để theo dõi kết quả điều trị hay ngừa loãng xương thì đo nói lại mất độ xương là không cần thiết do:

–    Sự đổi thay mật độ xương do điều trị chậm đến mức nhỏ hơn cả sai số kĩ thuật của máy. Nói bí quyết khác, đôi khi khoogn thể phân biệt được sự tăng mật độ xương thực thụ do điều trị có sự đổi thay kết qủa đo của máy.

–    Trong khi mục tiêu thực thụ của điều trị loãng xương là giảm gãy xương trong tương lai, thì lại ko có sự tương quan rõ rệt giữa nâng cao mật độ xương mang sự giảm nguy cơ gãy xương do điều trị. Ví dụ alendronat đã được chứng minh làm giảm nguy cơ gãy xương xuống 50%, nhưng chỉ khiến cho nâng cao chút đỉnh mật độ xương.

–    Đo mật độ xương trong công đoạn điều trị ko giúp những bác bỏ sĩ lập kế hoạch hay đổi thay mật điều trị. Ví dụ thậm chí ví như mật độ xương tiếp tục xấu đi trong điều trị, thì vẫn chưa với nghiên cứu chứng tỏ thay đổi thuốc, hoặc nâng cao liều thuốc có thể khiến giảm nguy cơ gãy xương trong tương lai.

–    Các kết quả nghiên cứu vừa rồi cho thấy, phụ nữ mất mật độ xương trong năm đầu điều trị hormon thay thế sẽ lấy lại mật độ xương trong hai năm tiếp theo, còn những phụ nữ nâng cao mật độ xương trong năm đầu điều trị mang xu hướng mất mật độ xương trong hai năm về sau. Như vậy, mật độ xương đổi thay tự dưng và điều đấy ko tương tác đến khả năng bảo vệ gãy xương của thuốc.