Bệnh vảy nến – nguyên nhân và triệu chứng thường gặp

  1. Bệnh vảy nến là gì?

Bệnh vảy nến liên quan tới hầu hết người ở các lứa tuổi khác nhau và tất cả những quốc gia. Tỷ lệ mắc bệnh vảy nến được báo cáo ở những quốc gia ngả nghiêng trong khoảng 0,09% đến 11,43%, làm căn bệnh trở nên 1 vấn đề toàn cầu nghiêm trọng mang chí ít 100 triệu người bị thúc đẩy trên thế giới.

Bệnh vảy nến là một bệnh da sẩn mạn tính, ban đầu được coi là một rối loạn cốt tử của tế bào sừng biểu bì, nhưng ngày nay được công nhận là 1 trong các rối loạn qua trung gian miễn dịch phổ biến nhất. 

  1. Nguyên nhân gây bệnh vảy nến

Các chuyên gia cho rằng có đa dạng yếu tố như di truyền, các chi tiết kích hoạt hài hòa mang sự phá đổ vỡ hàng rào da và rối loạn chức năng miễn dịch sở hữu tác động không nhỏ tới cơ chế bệnh sinh của bệnh vảy nến.

Cơ chế gây bệnh mang liên quan tới tự miễn dịch. Phản ứng miễn dịch là phản ứng tế bào. Tế bào T dòng 1 (TH1) và dòng 17 (TH17) được kích hoạt bởi IL-12 và IL-23 được tiết ra bởi tế bào trình diện kháng nguyên (APC) trong da. Thông qua những cytokine khác nhau, các tế bào này gây ra trạng thái viêm kinh niên và làm đổi thay quá trình tăng sinh, biệt hóa của da.2.1 Gen

Các nghiên cứu về di truyền học đã chỉ ra rằng bệnh nhân vảy nến có nhiềugen ảnh hưởng đến chức năng hàng rào miễn nhiễm và da. 

Các phân tích về tỷ lệ mắc bệnh cho thấy giả dụ 1 trẻ bị mắc bệnh thì xác suất 70%  trẻ sinh đôi cùng trứng còn lại cũng bị bệnh. Tỷ lệ này khoảng 20% ở các cặp song sinh khác trứng. 

Tỷ lệ mắc bệnh ở con là 20% giả dụ mang bố hoặc mẹ bị bệnh. Tỷ lệ này tăng lên thành 65% nếu có cả bố và má bị bệnh. 

Có 2 đột biến gen được tậu thấy gây ra bệnh vảy nến một cách độc lập ( IL36RN và CARD14 ) bằng phương pháp tác động đến cả da và hệ thống miễn dịch.

Yếu tố kích hoạt khởi phát bệnh

Một số chi tiết kích hoạt bao gồm chấn thương, phản ứng thuốc, nhiễm trùng cũng như những biến số có thể thay đổi như bao tay tâm lý, béo phì, hút thuốc và rượu sở hữu liên quan tới xu hướng vững mạnh bệnh vảy nến và khiến cho trầm trọng thêm bệnh.

Thời tiết khô, lạnh là 1 trong những tác nhân làm cho da nứt nẻ, chảy máu và dễ nhiễm trùng.

Chấn thương hoặc vết thương ngoài da như nổi mụn nước, hình xăm, bỏng và vết cắn của động vật hoặc côn trùng

Thuốc: Các mẫu thuốc được báo cáo đa dạng nhất để kích hoạt bệnh là lithium, thuốc chẹn beta, thuốc chống sốt rét, tetracycline và thuốc chống viêm ko steroid…

Nhiễm trùng là căn nguyên quan trọng gây ra bệnh vảy nến, đặc thù là ở trẻ em. Bệnh thể giọt có ảnh hưởng đến nhiễm trùng liên cầu Streptococcus pyogenes qua cả đường hầu họng và da.

Căng thẳng tâm lý được biết là một trong các chi tiết làm cho trầm trọng thêm bệnh vảy nến bằng cách thay đổi hệ thống miễn dịch. Nhiều chuyên gia cho rằng, sự gia nâng cao nồng độ hormone găng do kích hoạt trục dưới đồi – tuyến yên ổn – thượng thận mang thể gây ra đợt cấp của bệnh vảy nến.

Rượu và thuốc lá: Các nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh ở những bệnh nhân lạm dụng rượu ngày một tăng. Theo nghiên cứu, uống rượu mang tương tác tới việc nâng cao nguy cơ mắc căn bệnh này. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nguy cơ vững mạnh bệnh vảy nến ở những người đã hoặc đang hút thuốc cao hơn các người chưa bao giờ hút thuốc.

Béo phì: Một trong những chi tiết nguy cơ của bệnh vảy nến là tình trạng thừa cân, béo phì. Mặc dù chưa rõ về cơ chế làm cho thế nào mà béo phì lại thúc đẩy bệnh vảy nến nhưng rất phổ biến nghiên cứu khẳng định mối tác động giữa béo phì và mức độ nghiêm trọng của bệnh.

Sự đổi thay của hệ vi sinh vật trên da: Do da hoạt động như 1 hàng rào tiếp xúc sở hữu môi trường bên ngoài, phải nó là nơi cư trú của các vi sinh vật khác nhau bao gồm vi khuẩn, nấm, vi rút…. Một số khía cạnh bao gồm tuổi tác, di truyền, phản ứng miễn dịch, khí hậu và vệ sinh tương tác đến thành phần của những cộng đồng vi sinh vật trên da. Ngoài ra, sự dị biệt về độ dày của da, mật độ nang lông và sự thâm nhập của da tạo phải môi trường sống khác nhau với thành phần hệ vi sinh vật khác nhau. Trong điều kiện lành mạnh, những mối quan hệ cộng sinh phát triển, giúp bảo vệ da chống lại sự thâm nhập của vi sinh vật gây bệnh và có hại cho vật chủ bằng bí quyết giáo dục và nuôi dưỡng những tế bào T thường trú. Do đó, những thay đổi trong cùng đồng vi sinh vật trên da với tác động tới bệnh tật. Da thương tổn vảy nến đã được chứng minh là mang sự rộng rãi vi sinh vật thay đổi, tăng S. pyogenes, S. aureus, nấm men Malassezia, nấm Candida…. lúc so sánh có da khỏe mạnh và không tổn thương.